Category Archive CHIA SẺ

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

(KARTA VN) – Việt Nam chúng ta đang trong quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước, hơn nữa sự đô thị hóa cũng như giao thông vận tải chưa phát triển vì thế sự ô nhiễm môi trường nói chung chưa xảy ra trên diện rộng, nhưng  ô nhiễm môi trường đã xãy ra cục bộ, từng lúc, từng nơi. Có thể nêu ra như sau:

1. Ô nhiễm môi trường nước.

nuoc 2

Hiện nay tình trạng ô nhiễm và suy thoái nguồn nước (nước mặt và nước ngầm) đang xãy ra phổ biến ở nhiều nơi, đặc biệt là ở các khu đô thị và các thành phố công nghiệp. Chẳng hạn như nước ngầm đang được khai thác ở một số nhà máy nước thành phố Hà Nội cũng đã bị ô nhiễm như Pháp Vân, Mai Động hoặc như ở thành phố Hồ Chí Minh nước ngầm bắt đầu bị nhiễm mặn và suy giảm khả năng khai thác.

2. Ô nhiễm không khí.

khong khi

Mặc dù đất nước chúng ta nền công nghiệp chưa phát triển nhưng ô nhiễm không khí đã xãy ra. Ở Hà Nội, tại khu vực nhà máy dệt 8 – 3, nhà  máy  cơ  khí  Mai  Động.  Khu  công  nghiệp  Thượng  Đình,  khu  công nghiệp Văn Điển, nhà máy Rượu…không khí đều đã bị ô nhiễm nặng. Ở Hải Phòng , ô nhiễm nặng ở khu nhà máy Xi mămg, nhà máy Thủy Tinh và Sắt tráng men…Ở Việt Trì, ô nhiễm nặng xung quanh nhà máy Supe phốtphát Lâm Thao, nhà máy Giấy, nhà máy Dệt. Ở Ninh Bình và Phả Lại ô nhiễm nặng do nhà máy Nhiệt điện, các nhà máy vật liệu xây dựng, lò vôi. Ở  thành phố Hồ Chí Minh và cụm công nghiệp Biên Hòa không khí cũng bị ô nhiễm bởi nhiều nhà máy. Hầu như tất cả các nhà máy hóa chất đều gây ô nhiễm không khí. Dân cư sống ở các vùng nói trên thường mắc các bệnh đường hô hấp, da và mắt

3. Ô nhiễm đất.

dat

Hiện nay chưa thấy có tài liệu nào đề cập đến môi trường đất bị ô nhiễm bởi các tác nhân công nghiệp, nông ngiệp nhưng đất đã bị ô nhiễm bởi tác nhân sinh học. Đó là do tập quán dùng phân bắc và phân chuồng tươi theo các hình thức (bón lót, pha loãng để tưới,…) trong canh tác vẫn còn  phổ  biến.  Tại  vùng  trồng  rau  Mai  Dịch,  Từ  Liêm,  Hà  Nội  mật  độ trứng giun đũa là 27,4 trứng/100g đất, trứng giun tóc 3,2 trứng/100g đất (Trần  Khắc  Thi,  1966).  Theo  điều  tra  của  Viện  Thổ  nhưỡng  Nông  hóa (1993 – 1994) tại một số vùng trồng rau, người dân chủ yếu sử dụng phân bắc tươi với liều lượng khoảng từ 7 – 12 tấn/ha. Do vậy trong 1 lít nước mương  máng  của  khu  trồng  rau  có  tới  360  E.  coli  ;  ở  giếng  nước  công cộng là 20, còn trong đất lên tới 2 x 105/100g đất. Chính vì thế, khi điều tra sức khỏe người trồng rau thường xuyên sử dụng phân bắc tươi có tới 60% số người tiếp xúc với phân bắc từ 5 – 20 năm bị bệnh thiếu máu và các bệnh ngoài da.

4. Các giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường

Vấn đề ô nhiễm môi trường đã đặt ra nhu cầu cấp thiết của việc phải có những biện pháp cần thiết và thiết thực để toàn thể cộng đồng có thể góp phần cùng nhau hạn chế ô nhiễm môi trường. Có rất nhiều biện pháp mà mỗi cá nhân có thể làm để góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường, như đổ rác đúng nơi quy định, tiết kiệm điện, tiết kiệm nước… Vậy đối với các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành công nghiệp thì sao ?

Khi sử dụng sản phẩm làm từ giấy,

Với ưu thế chuyên cung cấp các sản phẩm bao bì chất lượng cao từ quy trình sản xuất thân thiện với môi trường, đặc biệt là những sản phẩm làm từ nguyên liệu tái chế, Karta xác định sứ mệnh của mình là trở thành người bạn thân thiện và tích cực trong công cuộc bảo vệ môi trường, cũng như là người bạn đồng hành tin cậy nâng bước thành công của khách hàng.

Đến với chúng tôi, các bạn đã góp một phần công sức chung tay vào công cuộc bảo vệ và cải thiện môi trường sống chung quanh chúng ta, giúp cho thế hệ con em chúng ta có cơ hội được sống trong một môi trường trong lành và không ô nhiễm.

Công ty KARTA chuyên cung cấp sản phẩm giấy tổ ong chất lượng cao và đáp ứng theo mọi quy cách mà Quý khách hàng yêu cầu. Với phương châm “Nơi Khách Hàng Được Tôn Vinh“, Quý khách hàng sẽ cảm thấy vô cùng hài lòng khi hợp tác với chúng tôi.

 

“Karta – Không sợ mệt, Không sợ mỏi, Chỉ sợ mềm”.

Chia sẻ của Ngô Bá Thuấn

Công ty Cổ phần KARTA

37 Nguyễn Bá Huân, P. Thảo Điền, Quận 2, TP.HCM

Email: info@karta.vn

        ĐT: 08-37446686; Fax: 08-37446618

 Hotline: 0913049202

LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG TỪ TÁI CHẾ GIẤY

 

Không chỉ bảo vệ môi trường, tái chế giấy còn góp phần tiết kiệm năng lượng và mang lại lợi ích kinh tế.

 

Tại hội thảo quốc tế về “Tái chế bao bì giấy đã qua sử dụng”, Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam kêu gọi các doanh nghiệp trong ngành giấy tích cực hơn trong việc thu hồi và tái chế giấy đã qua sử dụng. Bởi lẽ hoạt động này không chỉ tận dụng được tài nguyên, giảm ô nhiễm môi trường mà còn tiết kiệm điện năng, nước và tăng thêm việc làm.

Tiết kiệm năng lượng

Về mặt năng lượng thuần túy, sản xuất giấy tái chế (từ giấy đã qua sử dụng làm từ bột hóa) dùng năng lượng mua ngoài (ở dạng nhiên liệu hoặc điện) nhiều hơn một chút so với sản xuất giấy từ gỗ. Các chất thải trong quá trình sản xuất bột sẽ được đốt thu hồi hóa chất và nhiệt, nhiệt này dùng lại cho quá trình sản xuất bột và giấy. Trong khi đó, sản xuất giấy tái chế (từ giấy đã qua sử dụng làm từ bột cơ) dùng năng lượng mua ngoài ít hơn nhiều so với sản xuất giấy nguyên thủy. Quá trình sản xuất bột cơ không thể thu hồi được nhiệt.

 

Ghế làm từ giấy bao bì

Ghế làm từ giấy bao bì

Tận thu giấy đã qua sử dụng để tái chế thành những vật dụng hữu ích sẽ giúp bảo vệ môi trường.

Về mặt nguồn gốc năng lượng cần dùng trong sản xuất giấy nguyên thủy thì bản chất vẫn là gỗ. Việc đốt gỗ hay nhiên liệu khác như than đá, dầu mỏ… để lấy năng lượng đều tạo ra khí gây ô nhiễm. Trong khi các nhiên liệu khác không thể tái sinh thì gỗ có thể trồng lại. Phân tích này cho thấy dù sản xuất giấy tái chế dùng nhiều nhiên liệu hơn sản xuất giấy nguyên thủy thì sản xuất giấy tái chế vẫn tạo ra ít khí nhà kính hơn sản xuất giấy nguyên thủy.

Thông thường, vị trí các nhà máy giấy là gần rừng và xa nguồn giấy thải. Tuy nhiên, sản xuất giấy tái chế vẫn dùng ít năng lượng hơn sản xuất giấy nguyên thủy, tính cả năng lượng dùng để thu gom, vận chuyển và tái chế giấy. Bởi lẽ năng lượng cần để thu lại giấy đã qua sử dụng và đưa trở lại nhà máy là quá nhỏ so với năng lượng tiết kiệm được khi dùng giấy thải thay cho việc dùng gỗ để sản xuất tờ giấy mới. Sản xuất giấy nguyên thủy cũng cần năng lượng để chặt, thu gom và vận chuyển cây gỗ đến nhà máy. So sánh việc chặt và vận chuyển 2,2-4,4 tấn gỗ cho mỗi tấn bột giấy so với vận chuyển 1,4 tấn giấy thải cho sản xuất một tấn bột tái chế, có thể thấy tái chế giấy có khả năng tiết kiệm hơn nhiều.

Nhìn chung, sản xuất giấy bằng tái chế giấy hiệu quả hơn sản xuất giấy từ gỗ, vì việc tách xơ sợi và tẩy trắng đã được làm trước đó. Sản xuất giấy bằng tái chế giấy sử dụng ít năng lượng, nước và hóa chất hơn, đồng thời thải ra không khí và nước ít chất độc hại hơn.

Lợi ích bài toán kinh tế

 

 Theo tính toán, một tấn giấy tái chế tiết kiệm được 32 m3 nước (đủ để dội 3.000 toilet công cộng), tiết kiệm được 4.200 kWh năng lượng điện (đủ dùng cho một hộ gia đình có bốn người trong một năm). Để sản xuất một tấn bột giấy cần đến 5 m3 gỗ và 100 m3 nước. Vì vậy, tái chế giấy sẽ góp phần bảo vệ lâu dài tài nguyên rừng và nước.

Giấy có thể tái chế tới sáu lần trước khi chôn lấp hoặc đốt bỏ nên mang lại lợi ích kinh tế lớn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường. Khi công nghệ sản xuất giấy tái chế được cải tiến và hoàn thiện, lợi ích kinh tế do việc tái chế giấy mang lại sẽ ngày càng tăng.

Chẳng hạn, xơ sợi tái chế không chỉ dùng để sản xuất giấy làm bao bì, giấy in báo, giấy tissue mà còn dùng để pha trộn với bột nguyên thủy trong sản xuất các loại giấy cao cấp. Ngày nay, xơ sợi tái chế có trong hầu hết các loại giấy thương mại. Nhờ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, chi phí sản xuất giấy tái chế ngày một giảm và chất lượng xơ sợi tái chế ngày càng tăng. Chất lượng bề mặt giấy, độ bền giấy… ngày càng đáp ứng đòi hỏi khắt khe của thị trường.

Theo Tiến sĩ Vũ Ngọc Bảo, Tổng Thư ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, nhu cầu giấy trong nước hiện đạt hơn 1,8 triệu tấn mỗi năm. Trong khi đó, sản xuất trong nước mới chỉ cung cấp được 1,13 triệu tấn, phần còn thiếu phải nhập khẩu. Trong tổng số giấy sản xuất trong nước, có tới 70% là nguyên liệu từ nguồn giấy tái chế. Tuy nhiên, hiện chỉ có 25% giấy đã qua sử dụng được thu hồi. Tỉ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng ở Việt Nam hiện thuộc loại thấp nhất trong khu vực. Các nước như Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc có tỉ lệ thu hồi giấy lần lượt là 65%, 31%, 61,4%, 88%, 67%.

Quả là nghịch lý khi một lượng lớn giấy có thể tái chế lại bị tiêu hủy một cách lãng phí trong khi Việt Nam phải nhập khẩu một lượng giấy phế liệu, giấy tái chế khổng lồ từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất giấy

Nguồn : Pháp luật TPHCM Online

www.Karta.Vn xin chia sẻ cùng bạn !

“Karta – Không sợ mệt, Không sợ mỏi, Chỉ sợ mềm”.

Chia sẻ của Ngô Bá Thuấn

Công ty Cổ phần KARTA

37 Nguyễn Bá Huân, P. Thảo Điền, Quận 2, TP.HCM

Email: info@karta.vn

        ĐT: 08-37446686; Fax: 08-37446618

 Hotline: 0913049202

 

SỬ DỤNG GIẤY TÁI CHẾ ĐỂ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Ngày nay, thế giới ngày càng phát triển, công nghệ ngày càng hiện đại, nền công nghiệp ngày càng phát triển. Tuy nhiên, sự phát triển đó lại gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, đặc biệt là trong những ngành công nghiệp sử dụng lâm sản làm nguyên vật liệu sản xuất, một trong những điển hình là ngành sản xuất giấy hiện nay.

Vì vậy, trước sự báo động những thiệt hại gây ra đến môi trường, người tiêu dùng ngày nay ngày càng có nhu cầu sử dụng những sản phẩm mang tính thân thiện với môi trường hơn, đồng thời, đảm bảo sự tiện ích.

Bài viết sau đây xin đề cập đến những lợi ích của việc sử dụng sản phẩm giấy tái chế đối với môi trường và xã hội.

leaf

 

Bảo tồn rừng tự nhiên

Khi đốn hạ cây trong rừng lấy gỗ sản xuất giấy, ngành công nghiệp giấy đã trồng rừng thay thế. Tuy nhiên, đây là rừng nguyên liệu để sản xuất bột giấy.

Nhu cầu về giấy đẩy mạnh quá trình chuyển đổi rừng tự nhiên thành rừng sản xuất.

Việc khai thác gỗ có thể làm cạn kiệt rừng tự nhiên. Tăng cường trồng rừng làm nguồn nguyên liệu dùng cho sản xuất giấy gây nhiều ảnh hưởng bất lợi đối với chất lượng nước, tính đa dạng sinh học, môi trường sống của động, thực vật hoang dã và tính toàn vẹn của hệ thống sinh thái rừng tự nhiên.

Bắc Mỹ là nơi phần lớn gỗ dùng để sản xuất giấy. Chỉ trong gần 50 năm (từ 1953 đến 1999), diện tích rừng lá kim tự nhiên ở Bắc Mỹ giảm hơn một nửa (từ 72 triệu ha xuống còn 33 triệu ha).

Trong khi đó, rừng cây lá kim được trồng phục vụ sản xuất tăng từ 2 triệu ha lên 32 triệu ha, dự kiến đạt 54 triệu ha vào năm 2040.

Dẫn chứng này cho thấy sự tổn thất nặng nề của rừng tự nhiên. Bởi rừng cây lá kim được trồng phục vụ sản xuất tuy lớn nhanh nhưng không cung cấp nơi sống hoang dã cho muông thú và bảo tồn tính đa dạng sinh học như rừng tự nhiên.

Khi tái chế giấy, lượng gỗ phải chặt hạ để sản xuất bột giấy sẽ giảm.

giay-carton-to-ong-cua-cong-ty-karta(24)

Nhờ đó, việc tái chế giấy giúp:

– Giữ lại được rừng;

– Giảm áp lực chuyển đổi rừng tự nhiên và các khu vực nhạy cảm về sinh thái như đầm lầy thành rừng sản xuất;

– Giúp giữ gìn toàn bộ giá trị mà hệ thống sinh thái rừng cung cấp. Bao gồm: nước sạch, môi trường sống của muông thú và tính đa dạng sinh học.

 

Giảm lượng phát thải CO2

Hằng ngày, con người hít O2, thải CO2, còn cây cối hấp thụ CO2.

Cây ít tuổi hấp thụ CO2 nhanh hơn; nhưng cây già có thể tồn trữ nhiều CO2.

Khả năng trữ CO2 của cây già giúp giảm sự tập trung của khí nhà kính trong khí quyển.

Nếu tái chế giấy, tần suất đốn hạ cây lấy gỗ để sản xuất giấy sẽ giảm, lượng CO2 trữ trong cây sẽ tăng.

Nếu không tái chế, giấy đã qua sử dụng bị vùi trong các bãi chôn lấp, phân hủy và tạo thành methan – một thành phần độc của khí nhà kính.

Tái chế giấy giúp giảm lượng giấy cần chôn lấp, từ đó giảm khí nhà kính thoát ra.

 

 Ngoài ra, còn làm giảm ô nhiễm không khí và nước; đồng thời tiết kiệm diện tích đất lớn sử dụng vào việc chôn rác; cắt giảm sự phát sinh của các khí độc khác như oxid nitrogen (tạo nên sương khói) và các chất hạt (sinh ra các bệnh về đường hô hấp).

Giảm chất thải rắn

Giấy qua sử dụng nếu được tái chế sẽ giúp giảm thiểu trực tiếp chất thải rắn.

Giấy có thể tái chế tới sáu lần trước khi chôn lấp hoặc đốt bỏ.

 Cùng một tờ giấy nhưng nếu tái chế tới sáu lần, lượng chất thải rắn đương nhiên sẽ giảm so với một tờ giấy chỉ sử dụng một lần.

Khi giảm được chất thải rắn, diện tích đất dùng chôn lấp giấy cũng giảm theo.

 

Giảm nước thải, cải thiện chất lượng nước

Lượng nước thải là đo lường ý nghĩa về môi trường.

Lượng nước thải cho hai chỉ số, gồm:

– lượng nước mới cần dùng trong sản xuất;

– mức độ ảnh hưởng của nước thải ra môi trường.

Sản xuất giấy từ bột nguyên cần nhiều nước. Điều này làm lãng phí nước, nhất là thời kỳ hạn hán hoặc mùa màng khô kiệt.

Sản xuất giấy từ bột nguyên cũng thải nhiều nước hơn, chứa nhiều độc tố hơn so với việc tái chế giấy.

“Karta – Không sợ mệt, Không sợ mỏi, Chỉ sợ mềm”.

Chia sẻ của Ngô Bá Thuấn

Công ty Cổ phần KARTA

37 Nguyễn Bá Huân, P. Thảo Điền, Quận 2, TP.HCM

Email: info@karta.vn

ĐT: 08-37446686; Fax: 08-37446618

 Hotline: 0913049202

 

error: Nội Dùng Và Hình Ảnh Thuộc Bản Quyền Karta.vn